Lịch sử Việt Nam thời thượng cổ (2879-208 trước Công nguyên)

Việt Nam ta có lịch sử lâu đời, trong đó có chia thành nhiều giai đoạn, đánh dấu bằng những sự kiện lớn. Dựa trên các sự kiện và nền văn minh của các thời kỳ, có thể tạm chia lịch sử Việt thành các giai đoạn như sau:

Thời thượng cổ (2879-208 trước Công nguyên)

Thời kỳ Bắc thuộc (207 trước Công nguyên-931)

Thời kỳ phong kiến tự chủ (931-1865)

Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945)

Thời kỳ từ 1945 đến nay


Phần 1: Thời thượng cổ (2879-208 trước Công nguyên)

I/ Họ Hồng Bàng (2879-258 trước Công nguyên)

1. Họ Hồng Bàng

2. Nước Văn Lang

3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:

* Phù Đổng Thiên Vương

* Sơn Tinh Thủy Tinh

1. Họ Hồng Bàng

Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.


Chân dung Thần Nông

Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.


Đền thờ Lạc Long Quân tại đồi Sim (Phú Thọ)

Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải”. Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam, tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác được.



2. Nước Văn Lang.

Lạc Long Quân phong cho người con trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Cả thảy được 18 đời:

* Hùng Dương (Lộc Tục)

* Hùng Hiền (Lạc Long Quân)

* Hùng Lân (vua)

* Hùng Việp

* Hùng Hy (trước)

* Hùng Huy

* Hùng Chiêu

* Hùng Vỹ

* Hùng Định

* Hùng Hy (sau)

* Hùng Trinh

* Hùng Võ

* Hùng Việt

* Hùng Anh

* Hùng Triều

* Hùng Tạo

* Hùng Nghị

* Hùng Duệ

Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:

1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)

2. Châu Diên (Sơn Tây)

3. Phúc Lộc (Sơn Tây)

4. Tân Hưng (Hưng Hóa – Tuyên Quang)

5. Vũ Định (Thái Nguyên – Cao Bằng)

6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)

7. Lục Hải (Lạng Sơn)

8. Ninh Hải (Quảng Yên)

9. Dương Tuyền (Hải Dương)

10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)

11. Cửu Chân (Thanh Hóa)

12. Hoài Hoan (Nghệ An)

13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)

14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)

15. Bình Văn ( ? )

Chú ý: Một số địa danh thời tác giả viết sách có tên khác hiện nay. Mỗi “bộ” nghĩa là “bộ tộc”. Nên nhớ nhà nước Văn Lang là một liên minh 15 bộ tộc. Các sách vở khác nhau có ghi tên hơi khác nhau (vì phiên âm theo chữ Hán nên có nhiều dị bản). Theo sách Đại Việt Sử Lược thì 15 bộ là:

1. bộ Văn Lang: thuộc Phú Thọ

2. bộ Gia Ninh: thuộc Phú Thọ

3. bộ Tân Xương: thuộc Vĩnh Phúc

4. bộ Giao Chỉ: tương đương miền Hà Nội ngày nay và miền hữu ngạn sông Hồng

5. bộ Vũ Ninh: tương đương Bắc Ninh, Hải Dương ngày nay

6. bộ Ninh Hải: tương đương miền nam Khâm Châu-Quảng Tây (Trung Quốc)

7. bộ Thang Tuyền: tương đương nam Ung Châu-Quảng Tây (Trung Quốc)

8. bộ Lục Hải: tương đương Quảng Ninh

9. bộ Cửu Chân: thuộc Thanh Hóa

10. bộ Quân Ninh: bắc Thanh Hóa

11. bộ Hoài Nhan: tương đương vùng bắc Nghệ An

12. bộ Cửu Đức: tương đương nam Nghệ An và bắc Hà Tĩnh

13. bộ Việt Thường: thuộc Hà Tĩnh

14. bộ Nhật Nam: nam Hoành Sơn (Hà Tĩnh)

15. bộ Bình Văn: không rõ?

Lãnh thổ Văn Lang (500 TCN)

Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tĩnh Phú Thọ), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ Đạo.


Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam (la bàn) để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?

Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước Tây lịch) thì bị Thục Phán lấy mất nước.


Hình ảnh trên trống đồng

Trang phục người Việt thời thượng cổ có nhiều điểm giống với trang phục các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước Tây lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu được như vậy. Do đó truyện thời Hồng Bàng chưa hẳn chính xác, tuy nhiên điều đó cũng phần nào cho thấy lịch sử Việt Nam hình thành từ rất lâu đời, thậm chí không sau lịch sử Trung Hoa là mấy.

3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:

* Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng)

* Sơn Tinh Thủy Tinh

II/ Nhà Thục (257 – 207 trước Tây lịch)

1. Gốc Tích Nhà Thục

2. Nước Âu Lạc

3. Nhà Tần Đánh Bách Việt

4. Nhà Thục Mất Nước

1. Gốc Tích Nhà Thục.

Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy ? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách “Khâm Định Việt Sử” cũng bàn như thế.

Tượng An Dương Vương

2. Nước Âu Lạc.

Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán, biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự tử.

Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ (255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

3. Nhà Tần Đánh Bách Việt.

Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Tần Thủy Hoàng, đã nhất thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch). Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).

Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư.

4. Nhà Thục Mất Nước.

Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan úy quận Nam Hải.

Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt.

* Chuyện cổ  tích An Dương Vương:

Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa Thành, có những yêu quái quấy nhiễu, xây mãi không được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn, có thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm cái lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một phát, giặc chết hàng vạn người.

Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh không được An Dương Vương. Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thủy sang lấy Mỵ Châu là con gái An Dương Vương, giả kết nghĩa hòa thân để do thám tình thực.

Trọng Thủy lấy được Mỵ Châu rồi, hỏi dò vợ rằng: “Bên Âu Lạc có tài gì mà không ai đánh được?” Mỵ Châu nói chuyện cái nỏ, và lấy cho chồng xem. Trọng Thủy bèn lấy cái móng của Kim Qui đi, làm cái lẫy giả thay vào, rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp ra về, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng: “Tôi về, mà nhỡ có giặc giã đánh đuổi, thì rồi tôi biết đâu mà tìm?” – Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu, thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết.”

Trọng Thủy về kể lại với Triệu Đà tình đầu mọi sự, Triệu Đà bèn khởi binh sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương cậy có cái nỏ, không phòng bị gì cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem nỏ ra bắn, thì không thấy hiệu nghiệm nữa. An Dương Vương mới đem Mỵ Châu lên ngựa mà chạy về phía nam.

Chạy đến núi Mộ Dạ (thuộc huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An) gần bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim Qui lên cứu, Kim Qui lên nói rằng: “Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy!” An Dương Vương tức giận quá, rút gươm ra chém Mỵ Châu đi, rồi nhảy xuống bể mà tự tận.

Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, đem binh đuổi đến núi Mộ Dạ, thấy xác vợ chết nằm đó, thương xót vô cùng, vội vàng đem về cấp táng, xong rồi, nhảy xuống cái giếng ở trong Loa Thành mà tự tử.

Nay ở làng Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương có cái giếng tục truyền là Trọng Thủy chết ở giếng ấy. Tục lại truyền rằng Mỵ Châu bị giết đi, vì nỗi tình thực mà phải thác oan, cho nên máu nàng ấy chảy xuống bể, những con trai ăn phải hóa ra có ngọc trân châu. Hễ ai lấy được ngọc ấy đem về rửa vào nước cái giếng ở trong Loa Thành là chỗ Trọng Thủy đã tự tử, thì ngọc ấy trong và đẹp thêm ra.

Đền thờ Thục phán An Dương Vương (đền Cuông), Diễn Châu, Nghệ An

* Phụ chú

1/ Thần Nông, còn được gọi là Viêm Đế hay Ngũ Cốc Tiên Đế, là một vị vua huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, một trong Tam Hoàng và được xem là một anh hùng văn hóa  Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc (tức Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc). Theo truyền thuyết phương nam thì Thần Nông là tổ tiên năm đời của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân và Âu Cơ được coi là tổ tiên của người Việt.

2/ Ngày giỗ tổ Hùng Vương là một ngày lễ của Việt Nam được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc nhằm mục đích tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng.

Dù ai đi ngược về xuôi.

Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba.

3/ Đền Hùng: Nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc thâm nghiêm trên núi Nghĩa Lĩnh. Từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 đến thành phố Việt Trì (84km) đi tiếp khoảng 10km đến ngã ba Hàng rẽ về bên trái 3 km là đến khu di tích. Khu di tích lịch sử đền Hùng gồm có đền Hạ và chùa, đền Giếng, đền Trung, đền Thượng, lăng vua Hùng.

Ðền Hạ: Từ chân núi Hùng rẽ qua Ðại môn (cổng đền) leo qua 225 bậc thang xây bằng gạch lên đến đền Hạ và chùa (Thiên Quang tự). Ðền được xây vào thế kỷ 15, tương truyền nơi đây bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, Lạc Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, để lại người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Trước cửa đền Hạ có cây thiên tuế, nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về tiếp quản thủ đô có nói chuyện với chiến sĩ của đại đoàn quân tiên phong “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ðền Trung: Từ đền Hạ leo thêm 168 bậc đá nữa là tới đền Trung. Tương truyền nơi đây các vua Hùng lập quán xá để nghỉ ngơi và bàn việc với các lạc hầu. Cũng ở nơi đây hoàng tử Lang Liêu đã dâng bánh chưng, bánh giầy lên cho vua cha nhân dịp tết

Ðền Thượng: Từ đền Trung đi tiếp 102 bậc đá là đến đền Thượng, nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Ðây cũng là nơi Thục Phán sau khi được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi, dựng cột đá thề sẽ trông nom ngôi đền và giữ gìn cơ nghiệp nhà Hùng.

Lăng vua Hùng: Tương truyền là mộ vua Hùng Vương thứ 6. Sau khi Thánh Dóng đánh giặc Ân bay lên trời, vua Hùng đã hoá ở đây.

Ðền Giếng: Ngày nay, ở gần Công Quán (nơi để tiếp khách thập phương) có Bảo tàng Hùng Vương được xây dựng tương đối lớn trưng bày nhiều hiện vật thời kỳ Hùng Vương dựng nước qua nền văn hoá thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt…

4/ Cổ Loa là kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên.Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.


Sơ đồ Thành Cổ Loa

5/ Nỏ thần làm từ móng rùa thần của An Dương Vương chỉ là hình ảnh biểu tượng cho công nghệ vũ khí thời Âu Lạc. Thực tế “nỏ thần” là một loại nỏ lớn, bắn được nhiều tên, gọi là nỏ liên châu (cơ nỗ). Đây là một loại vũ khí lợi hại, đặc biệt khi được dùng trong phòng thủ thành trì thì cực kỳ hiệu quả. Loại tên sử dụng là loại tên lớn, thân gỗ cứng bịt đồng, khi bắn có thể xuyên thủng cả áo giáp, khiên chắn. Mặc dù “nỏ thần” đã bị thất truyền từ lâu, nhưng mới đây đã được phục chế và bắn thử. Có thể chiếc nỏ phục chế không hoàn toàn giống với loại nỏ sử dụng thời An Dương Vương, nhưng cũng phần nào cho thấy hình ảnh oai hùng của người Việt thời ấy.

Mũi tên đồng tại Thành Cổ Loa

Nỏ liên châu được phục chế

Mũi tên

Ngắm bắn

Một phát bắn cả chục mũi tên làm quân thù khiếp vía.

Nguồn:

Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim)

Đại Việt Sử Ký