Những người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử

Lịch sử Việt Nam gắn với quá trình phát triển và đấu tranh của dân tộc. Vùng đất và con người đã viết nên những mốc son chói lọi. Nhân kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, tôi xin giới thiệu một số bài viết về những vị nữ danh nhân của nước nhà.

Nguyên phi Ỷ Lan – người phụ nữ kiệt xuất của vương triều Lý

Trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến có rất nhiều người phụ nữ kiệt xuất làm rạng danh dân tộc, họ là những vị vua, hoàng hậu, nguyên phi, nữ tướng hay thường dân, nhưng ở họ đều có chung một tinh thần tự hào dân tộc, ý chí căm thù quân xâm lược và cống hiến sức mình phụng sự cho quốc gia. Trong số đó, nguyên phi Ỷ Lan chính là người phụ nữ nổi tiếng nhất với tài trị nước yên dân của mình, bà chính là động lực giúp vua Lý Thánh Tông dẹp yên quân Chiêm Thành quấy phá ở mạn Nam và thu về 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính.

Nguồn gốc xuất thân

Hai bộ sử viết về Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan là Việt Sử Lược và Đại Việt Sử Kí Toàn Thư đều không viết rõ về tên thật và năm sinh của bà, chính vì thế tên và năm sinh của bà vẫn còn là một bí ẩn. Gần đây, nhà sử học Tạ Ngọc Liên đã nêu việc tác giả Trương Thị Ngọc Trong (một cung tần của chúa Trịnh Cương) đã sáng tác một diễn ca chữ Nôm dài 606 câu với tựa đề “Lý triệu đệ tam Hoàng Thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn” để nhằm việc phụng thờ ở đền Nguyên phi Ỷ Lan. Theo bài diễn ca này, Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Khiết, sinh vào mùng 7 tháng 3 năm 1044 tại Thổ Lỗi. Khi 12 tuổi, thân mẫu qua đời, bốn năm sau thân phụ lấy vợ kế, không lâu sau thì ông cũng qua đời và bà sống với mẹ kế, hai người nương tựa nhau sống, thương yêu, đối xử nhau như mẫu tử. Cuộc sống của bà cũng bình thường như bao thôn nữ khác cho đến một ngày bà được chọn vào cung, số phận của bà đã được thay đổi. Và chuyện bà được chọn vào cung đã trở thành một giai thoại được rất nhiều người biết đến. Câu chuyện ấy như sau: Vào năm Quý Mão (1063), Lý Thánh Tông đã bước sang tuổi 40 nhưng vẫn chưa có người nối nghiệp, đi chùa miếu khắp nơi nhưng không linh nghiệm, nghe tiếng chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) vua bèn đến thăm, khi đi qua hương Thổ Lỗi, dân chúng nô nức xô đẩy nhau ra xem bệ rồng, thần dân gặp vua thì sụp lạy, duy từ xa có người con gái dưới nương dâu tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo:

“ Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Một trăm ngọn cỏ lau hàng tay ta”

Thấy lạ, vua bèn cho gọi cô thôn nữ đang hái dâu đứng dưới nương dâu tựa gốc lan đến hỏi chuyện. Cô gái ung dung quỳ xuống và đáp: “Thiếp là con nhà nghèo hèn, làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ, đâu dám mong đi xem rước nhìn mặt rồng”. Dù ăn mặc quê mùa, nhưng với khuôn mặt khả ái, cử chỉ đoan trang, tư chất thông minh nên được vua chọn vào cung và ở Lan Cung (nằm trong kinh thành Thăng Long). Lý Thánh Tông phong là Ỷ Lan phu nhân (có ý kỉ niệm hình ảnh cô gái đang tựa bên gốc lan trong lần đầu tiên gặp gỡ)”.

Tài trị nước, nhiếp chính khi vào triều đình nhà Lý

Ở trong cung, khác với những cung tần khác bà chỉ chăm lo việc học hành, đọc kinh sách, miệt mài học tập. Với tư chất trời ban, chỉ trong một thời gian ngắn bà trở thành một người kiến thức sâu rộng, uyên thâm, văn chương lưu loát được nhiều triều thần khâm phục, kính nể. Vua Lý Thánh Tông và của cả xã tắc Đại Việt càng hân hoan, hạnh phúc hơn khi Ý Lan hạ sinh một hoàng tử, đặt tên là Lý Càn Đức, bà được phong là Ỷ Lan Nguyên phi.

Nguyên phi Ỷ Lan không chỉ đẹp người mà còn tài cao, bản lĩnh. Với tư chất hơn người, tầm nhìn và tài đức của bà được vua nhìn thấy và vào năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân chinh đi dẹp giặc ở phương Nam đã giao quyền nhiếp chính cho Ỷ Lan. Vào ngay năm ấy, Đại Việt bị lụt lớn, mùa màng thất bát, nhân dân đói kém, nhiều nơi sinh loạn… những khó khăn ngày càng nhiều và đang thử thách một vị Nguyên phi trẻ tuổi mới nhiếp chính. Với tài năng và những kinh nghiệm học hỏi được, được sự giúp đỡ của các quần thần, bà đã đưa ra những chính sách hợp lòng dân, những khó khăn dần được giải quyết, đất nước ổn định và tiếp tục phát triển.

Còn phần vua Lý Thánh Tông, đánh mãi không thắng, vua bèn giao binh quyền cho Lý Thường Kiệt và cùng một đạo quân nhỏ trở về kinh đô. Đến Cư Liên (Hưng Yên) nghe quan lại và dân chúng hết lòng khen ngợi Nguyên phi Ỷ Lan có tài trị nước an dân, vua nghe bèn thấy hổ thẹn và nhủ rằng: “Nguyên phi là đàn bà mà còn làm được như thế, ta là nam nhi mà chẳng được gì hay sao?”. Vua bèn quay trở lại và đánh thắng, bắt được vua Chiêm Thành và thu về được 3 châu là Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (từ Quảng Bình đến bắc Quảng Trị ngày nay).

Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và cuộc kháng chiến chống Tống lần II

Năm 1072 Lý Thánh Tông qua đời, con là Lý Càn đức lên ngôi – tức Lý Nhân Tông, tôn mẹ là Ỷ Lan làm Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Việc một vị vua chỉ mới 7 tuổi lên ngôi là còn quá nhỏ nên đã dẫn đến những rối ren trong nội bộ triều đình. Vì vua còn nhỏ nên những năm đầu bà nhiếp chính, bà trông coi triều đình ra sức dạy dỗ vua Nhân Tông, nhờ tài năng của bà nên Đại Việt được ổn định và phát triển làm cho thế và lực đất nước ngày càng vững. Khi quân Tống xâm lược nước ta, vua Nhân Tông lúc này chỉ khoảng 10 tuổi nên bà đã đứng ra cùng Lý Thường Kiệt bàn kế sách, cùng Thái sư Lý Đạo Thành lo việc vận chuyển lương thực ra tiền tuyến.

Thành công lớn nhất của hoàng thái hậu Ỷ Lan trong cuộc kháng chiếng chống Tống lần II (1075 – 1077) là mời được thái sự Lý Đạo Thành ra giúp nước (vốn trước đó có mối hiềm khích trong việc tranh giành ngôi hoàng hậu). Trong lúc đất nước lâm nguy do phải đối phó với nạn ngoại xâm, cái bắt tay của 3 nhân vật chính trị quan trọng của triều Lý bấy giờ đã tạo nên một động lực tinh thần lớn cho nhân dân. Sự quan tâm đến người tài, đặt vận mệnh dân tộc lên trên lợi ích cá nhân của thái hậu Ỷ Lan đã làm cho quân và dân đoàn kết chiến đấu dưới sự chỉ huy của triều đình và giành được thắng lợi to lớn. Uy danh Đại Việt ngày càng được củng cố.

Vị Hoàng Thái hậu thương dân

Thời Lý Nhân Tông, nước thái bình, dân giàu có, đông đúc; đối ngoại thì nước lớn nể sợ, nước nhỏ mến phục. Sống trong cảnh lầu son gác tía nhưng bà không hề quên những tháng ngày cơ cực trước đây, với tấm lòng yêu nước thương dân bà luôn quan tâm đến cuộc sống người dân, chỉnh đốn và khuyến khích phát triển nông nghiệp, chủ trương phát triển dân trí, thi cử, đặc biệt quan tâm củng cố quốc phòng, bố trí quân sự. Đương thời, dân chúng nhiều người nghèo khổ phải bán thân, làm thuê làm mướn; con trai nhiều người không lấy nổi vợ; con gái nhiều người phải làm nô tỳ, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan đã lấy tiền trong ngân khố vương triều để chuộc thân cho những cô gái, rồi gả họ cho người nghèo khó không cưới nổi vợ. Việc này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thái hậu Ỷ Lan đã đổi mệnh cho họ”. Bà còn theo dõi, chăm lo cho nông dân và nghề nông với mối quan tâm sâu sắc…. Với vai trò làm mẹ, bà dạy dỗ, khuyên vua Nhân Tông làm điều thiện. Nhờ đó, vua Lý Nhân Tông trở thành một trong những vị vua anh minh dưới triều Lý sau này.

Năm 1117 bà qua đời, trên dưới khoảng 70 tuổi, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Đương thời, cảm ơn đức cao dày của bà, nhân dân đã tôn vinh bà Ỷ Lan là “Quan âm nữ”. Hiện nay, còn miếu thờ bà ở hai xã là Cẩm Đới và Cẩm Cầu (Gia Lôi – Hải Dương). Rõ ràng với những cống hiến cho giang sơn cho xã tắc Đại Việt, bà trở thành một nữ danh nhân nổi bật dưới vương triều Lý, khiến cho vua Lý Thánh Tông cũng phải cảm thấy xấu hổ, ghen tị. Dù xuất thân nghèo hèn nhưng với tư chất trời ban, thêm vào đó là lòng ham học hỏi, chí vươn lên dần dần bà đã trở thành một nhân vật chính trị quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn trong triều đình nhà Lý. Với bản lĩnh và sự khéo léo của mình, bà đã ổn định nội bộ triều đình, dân chúng no ấm, đất nước cường thịnh tạo thế và lực cho đất nước đánh bại cuộc chiến đấu chống xâm lược Tống (1075 – 1077). Nguyên phi Ỷ Lan là người phụ nữ có tài trị nước của dân tộc, làm sáng danh hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử nước nhà. (Kim Ngân)


Vũ Thị Duệ – Vị nữ tiến sĩ đầu tiên trong Lịch sử khoa bảng Việt Nam

Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ tại Hải Dương. (Nguồn: tuoitre.com.vn

Lịch sử Việt Nam có rất nhiều điều trùng hợp ngẫu nhiên và cũng chứa đựng nhiều bất ngờ. Trong lịch sử khoa bảng nước ta, đã có rất nhiều vị tiến sĩ chiếm những vị trí khôi nguyên được ghi tên trên bia đá tại Văn Miếu Quốc Tử Giám là những bậc nam nhi. Tuy nhiên, vào cuối thế kỉ XVI, Lịch sử khoa bảng Việt Nam dưới triều Mạc đã ghi tên vị Tiến sĩ nữ đầu tiên của nước ta, đó là Nguyễn Thị Duệ.

Nguyễn Thị Duệ người xã Kiệt Đặc (nay là xã Văn An), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chính vùng đất này đã sản sinh ra rất nhiều nhân vật tài ba trong Lịch sử Việt Nam như Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm…. Sách Đại Nam Dư địa chí ước biên, mục Hải Dương có chép những dòng về bà như sau: “thông minh hơn người, học rộng văn hay, giả trang làm con trai theo thầy học tập. Thi Hội thời Mạc đỗ Tiến sĩ”.

Hiện nay, do tư liệu về bà còn quá ít và cũng trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc giữa Nam – Bắc triều và sau đó là Đàng trong – Đàng ngoài nên nguồn sách sử cũng bị thất lạc một phần. Theo nhiều tư liệu tổng hợp, bà còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Toàn, hiệu Diệu Huyền. Ngay từ năm 10 tuổi, bà đã được nhiều nhà quyền quý trong vùng đến xin hỏi cưới nhưng gia đình không chấp nhận.

Vào thời gian này trong Lịch sử Việt Nam xảy ra cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều, họ Trịnh với danh nghĩa “Phù Lê diệt Mạc” nhiều lần tấn công Thăng Long nhằm lật đổ nhà Mạc, phục hưng nhà Lê. Năm 1592, Trịnh Tùng  dẫn quân đánh ra Thăng Long, lật đổ nhà Mạc. Vua Mạc chạy lên Cao Bằng và duy trì chính quyền ở đây đến năm 1677 mới bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong cảnh chiến tranh, Nguyễn Thị Duệ cùng với gia đình theo nhà Mạc lên Cao Bằng.

Với tư chất thông minh và hiếu học, nhưng luật lệ phong kiến khắc khe không cho bậc nữ nhi được học hành thi cử, nhưng Nguyễn Thị Duệ đã dũng cảm vượt qua rào cản đó bằng cách cải nam trang để có thể theo học cùng với các bậc nam nhi. Là nữ nhi nhưng Nguyễn Thị Duệ học tập rất siêng năng, thông thạo các sách thánh hiền và sách kinh điển của Nho gia, chí lớn không thua gì các bậc nam nhi. Đến khoa thi Hội dưới triều nhà Mạc tại Cao Bằng, Nguyễn Thị Duệ đổi tên là Nguyễn Thị Du để được dự thi và đỗ đầu khi tròn 20 tuổi.

Khi vua Mạc Kính Cung mở tiệc chiêu đãi các tân khoa trong kỳ thi này, nhà vua thấy trong hàng ngũ các bậc tân khoa ngồi dưới có một vị tiến sĩ trẻ dáng mảnh mai, thanh tú nên hỏi cho ra lẽ. Cuối cùng, khi biết Nguyễn Thị Duệ là nữ nhi, vua Mạc Kính Cung vì mến mộ tài năng của bà chẳng những không phạt theo lệ phong kiến mà còn cho ra làm quan trong triều Mạc.

Những năm sau đó, quân Trịnh liên lục tấn công lên Cao Bằng nhằm dẹp yên thế lực nhà Mạc. Một trong những lần tấn công đó, vua Mạc phải chạy vào rừng lánh nạn và Nguyễn Thị Duệ bị quân Trịnh bắt về Thăng Long. Vua Trịnh rất sủng ái Nguyễn Thị Duệ nên phong cho bà chức Lễ nghi cố vấn, phụ trách việc giảng dạy cho các phi tần, cung nữ trong triều Lê – Trịnh.

Lúc còn làm quan, bà rất quan tâm đến việc thi cử, đào tạo nhân tài cho đất nước. Rất nhiều kỳ thi Hội và thi Đình do bà trực tiếp làm giám khảo chấm chọn, bà còn đề nghị triều đình cấp ruộng tốt nhằm canh tác lấy hoa lợi dùng giúp đỡ cho những thư sinh nghèo cần cù, hiếu học.

Ở bà còn là một tấm gương đạo đức mẫu mực, thuở còn sống chung với gia đình, anh trai bà thường bị dân trong làng ức hiếp, nhưng lúc làm quan, bà không lấy đó làm thù riêng mà chuyên tâm lo phục vụ đất nước. Trong quá trình dạy học ở trong cung đình, bà đã tạo mối quan hệ thân mật với hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vốn là vợ vua Lê Thần Tông dưới thời Lê trung hưng).

Đến năm 70 tuổi, bà cáo quan về sinh sống tại quê nhà (Hải Dương) và mất tại đây. Bà được người dân trong vùng tôn kính và lập đền thờ tại đây.

Nguyễn Thị Duệ là người tài sắc vẹn toàn, vì tính hiếu học nên đã vượt qua rào cản lễ giáo phong kiến để được đi học và ra làm quan. Là bậc nữ nhi nhưng ý chi vươn lên và mong muốn cống hiến tài năng của mình, bà đã khiến cho rất nhiều người phải ngưỡng mộ và trân trọng, đặc biệt là dưới thời của hai triều vua Mạc và Lê – Trịnh. Trang website của Phụ nữ Việt Nam có viết về bà như sau: “Dưới thời phong kiến ở Việt Nam, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã không cho giới nữ được bình đẳng với nam giới, kể cả việc học hành, thi cử. Vậy mà có người con gái tài sắc, đức độ, trí tuệ trác việt đã vượt qua luật lệ khắc khe đó, đạt tới học vị tiến sĩ. Đó là Nguyễn Thị Duệ”.

Trên con đường học vấn ngày nay, vấn đề nam nữ không còn mang tính quan trọng, đã có rất nhiều người phụ nữ đã chiếm lĩnh một kho tàng tri thức trong lĩnh vực giáo dục và nhiều hoạt động khác. Nhưng cách nay hơn 400 năm, có một người con gái đạt đến danh hiệu tiến sĩ, chiếm vị trí cao trong khoa bảng nước nhà là một điều đặc biệt và hiếm thấy trong Lịch sử khoa bảng Việt Nam. Rõ ràng, ở Nguyễn Thị Duệ là một tấm gương sáng về tinh thần học tập và ý chí vươn lên rất đáng trân trọng. (Huỳnh Ngân)


Võ Thị Sáu – người con ưu tú của vùng Đất Đỏ miền Đông

Đông Nam Bộ là địa bàn chính của căn cứ kháng chiến phía Nam, trụ sở của Trung Ương cục miền Nam. Đây cũng chính là quê hương của những người con anh hùng của Tổ Quốc, một trong những nhân vật đó chính là chị Võ Thị Sáu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, người đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tượng đài của chị Võ Thị Sáu tại huyện Đất Đỏ. (nguồn: quehuongonline.vn)

Võ Thị Sáu tên thật là Nguyễn Thị Sáu (1935 – 1952) quê ở Xã Long Mỹ, nay là Xã Phước Long Hội, Huyện Đất Đỏ, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chị là con thứ sáu của ông Võ Văn Hợi làm nghề đánh xe ngựa và bà Nguyễn Thị Đậu bán bún bò.

Năm 1949, chị gặp được người anh trai là chiến sĩ cách mạng tuyên truyền giáo dục nên chị trốn theo anh lên chiến khu công tác và chị được giao làm trinh sát, là Đội viên của công an xung phong quận Đất Đỏ. Sớm có lý tưởng cách mạng, ý thức căm thù thực dân Pháp, Võ Thị Sáu đã cố gắng công tác, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao như giao liên, mua hàng tiếp tế cho các tổ chức cách mạng. Chị cũng thường đột nhập vào nội thành nắm tình hình địch và tiếp tế lương thực cho đồng đội ở chiến khu.

Năm 1950, chị bị lính ngụy bắt giam vì ném lựu đạn tại chợ Đất Đỏ, diệt một Cai tổng Tòng quan ba và làm bị thương hai mươi tên lính Pháp. Do chưa đủ tuổi nên chị bị giam ở Bà Rịa, sau đó chuyển đến khám Sài Gòn, Chí Hòa. Mặc dù mới 15 tuổi chị đã bị k thù tra tấn dã man, đày đọa khổ sở, nhưng Võ Thị Sáu vẫn giữ khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Pháp không tra hỏi được thông tin gì và vội kết án tử hình – vụ án đã gây chấn động trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, các luật sư bào chữa cho chị Sáu liên tục phản đối vì chị chưa đủ 18 tuổi.

Trong suốt 3 năm giam cầm chị luôn hồn nhiên vui vẻ, tin tưởng vào ngày chiến thắng của cách mạng. Ngày 21/1/1952, chị bị đưa lên tàu ra Côn Đảo với số tù 6267 và giam vào xà lim Sở Cò, và đêm hôm sau, được chi bộ nhà tù kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. 7 giờ sáng, ngày 23/1/1952 chúng đưa chị đi xử bắn, khi đó chị mới 17 tuổi.

Người con gái tuổi đời 17, cái tuổi đầy nhiệt huyết với cuộc sống, với lý tưởng cách mạng, chị hiên ngang bước ra pháp trường với tinh thần không khuất phục trước kẻ thù: “Tao không sợ chết, cứ để tao nhìn viên đạn của chúng mày bắn vào ngực tao” và chị hô to : “Việt Nam độc lập thống nhất”. Đối mặt với cái chết, trước những họng súng sẵn sàng nhả đạn, chị đã không hề nao núng và hô vang những lời cuối cùng “Hồ Chủ tịch muôn năm” át cả tiếng súng kẻ thù. Hiện nay, mộ của chị Võ Thị Sáu tọa lạc ở nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương, Côn Đảo. Ngày 2/9/1994, chị đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc Việt Nam, hình ảnh của chị Võ Thị Sáu đã đại diện cho cả thế hệ trẻ Việt Nam xung phong gia nhập kháng chiến. Những câu nói của chị, cùng với những lời đanh thép của Nguyễn Văn Trỗi “Việt Nam muôn năm!”, tinh thần quả cảm của Bế Văn Đàn  ”Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi” hay “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” của Nguyễn Viết Xuân, nụ cười bất tử của chị Võ Thị Thắng… tất cả những câu nói, những hành động đó vẫn còn sống mãi với thời gian.

Ở tuổi 17, chị mãi mãi nằm lại Côn đảo trong sự tiếc thương của đồng đội, đồng bào. Nhiều văn nghệ sĩ đã xúc động lấy gương chị làm chất liệu sáng tác. Nổi nật nhất có bài ca: “Biết ơn Chị Võ Thị Sáu” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn với những lời ca trữ tình từ lời bài hát : “….Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, Chị đã dâng cả cuộc đời, để chiến đấu với bao niềm tin, dù chết vẫn không lùi bước. Chị Sáu đã hy sinh rồi, giọng hát vẫn như còn vang dội, vào trái tim những người đang sống, giục đi lên không bao giờ lùi ”.

Dân tộc Việt Nam luôn có truyền thống hào hùng, bất khuất: “có cái chết hóa thành bất tử, có những lời hơn mọi lời ca “. Vâng, chị Sáu vẫn sẽ sống cùng lịch sử cách mạng việt Nam, vẫn in dấu trong thơ ca Việt Nam, đồng thời chị góp phần tô điểm rạng rỡ cho non sông đất nước Việt Nam, là tấm gương kiên cường, bất khuất cho tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại mới.

Đứng trước những thách thức từ cuộc sống, ở độ tuổi thanh niên, chúng ta hãy luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước giống như chị Võ Thị Sáu ngày nào. (Mỹ Nương)

nguồn chính: enews.agu.edu.vn